HỒ SƠ VỤ ÁN LAO ĐỘNG SƠ THẨM VÀ PHÚC THẨM. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Thành. Bị đơn: Công ty TNHH Sài Gòn đồ gỗ Quốc tế (SMI) - Hotline: 0912822628
Thương Hiệu Doanh Nghiệp là cái tên dễ nhớ, gần gũi và Thương Hiệu là mục tiêu chung của các doanh nghiệp. Thương Hiệu Doanh Nghiệp là nơi hội tụ Thành công - Thịnh vượng - Phồn vinh của các doanh nghiệp. Thương Hiệu Doanh Nghiệp là nơi tôn vinh và khẳng định đẳng cấp thương hiệu của doanh nghiệp thương hiệu.

HỒ SƠ VỤ ÁN LAO ĐỘNG

Về việc: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Thành

Bị đơn: Công ty TNHH Sài Gòn Đồ gỗ Quốc tế (Viết tắt là Công ty Quốc tế hoặc SMI)

Cơ quan hòa giải lao động: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Bình Thạnh

Tòa án sơ thẩm: Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh

Tòa án phúc thẩm: Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Tranh chấp của vụ án: Tranh chấp về lao động giữa Nguyên đơn và Bị đơn; Tranh chấp về hành chính giữa Nguyên đơn và Cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan có thẩm quyền liên quan.

Chứng minh và chứng cứ: HGV và đại diện của SMI đã thừa nhận SMI không chứng được lỗi của ông Thành thì chỉ cần Biên bản hòa giải lao động và Quyết định số 18/QĐ/2013 của SMI cũng đủ chứng cứ chứng minh SMI đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Tóm tắt nội dung án oan sai: Ông Thành vẫn  hành nghề lái xe hợp pháp sau khi Tòa án phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm chứng minh Tòa án hai cấp đã không căn cứ chứng cứ và tranh luận thấu tình đạt lý của ông Thành mà chỉ căn cứ lý do vô căn cứ và trái pháp luật của Công ty Quốc tế để giải quyết vụ án trái pháp luật theo ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng.

- Hồ sơ vụ án lao động sơ thẩm số 56/2013/TLLĐ-ST ngày 30/5/2013 và vụ án lao động phúc thẩm số 91/2013/LĐPT ngày 09/12/2013 có tài liệu không hợp pháp nhưng được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án; có tài liệu chứng minh yêu cầu khởi kiện của ông Thành là có căn cứ và hợp pháp nhưng bị cố ý bỏ qua theo ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng; không có tài liệu, chứng cứ bổ sung của ông Thành vì Tòa án hai cấp không thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ và Tòa án phúc thẩm không lập biên nhận tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu có căn cứ và hợp pháp của ông Thành.

- Bản án sơ thẩm số 13/2013/LĐ-ST ngày 04/09/2013 và Bản án phúc thẩm số 1186/2014/LĐ-PT ngày 12/09/2014 là các bản án được xét xử trái pháp luật và theo ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng.


Án oan sai: Ai làm gì được ta?

Tòa án lạm quyền tùy tiện thay đổi thẩm phán phụ nhưng không tuân thủ pháp luật thay đổi người tiến hành tố tụng theo yêu cầu có căn cứ và hợp pháp của đương sự là không công bằng.

Cản trở việc khởi kiện bằng yêu cầu Nguyên đơn cung cấp cho Tòa án bản sao hợp đồng miệng. Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là chứng cứ chứng minh hợp đồng miệng được Nguyên đơn giao nộp cho Tòa án ngay từ khi nộp đơn khởi kiện nhưng Tòa án lại trả lời khiếu nại rằng Nguyên đơn không cung cấp các chứng cứ theo yêu cầu... chỉ là hai trong số nhiều hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền.

Lạm quyền tiếp tay cho lý do trái Điều 87 của Bộ luật lao động của Công ty Quốc tế nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan hòa giải lao động lẩn trốn yêu cầu xử lý kỷ luật theo hình thức bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với những cán bộ có sai phạm và khai trừ đảng đối với những đảng viên có sai phạm.

Ta là Hội đồng xét xử, ta là Thẩm phán, ta là Phó Chánh án, ta là Chánh án, ta làm theo ý chí chủ quan của ta chứ cần gì phải tuân thủ pháp luật, ai làm gì được ta? Ai? Không ai? Vậy thì ta cứ hồn nhiên vi phạm pháp luật nghiêm trọng, thản nhiên ra quyết định trái pháp luật rất nghiêm trọng và ngang nhiên ban hành bản án trái pháp luật đặc biệt nghiêm trọng. Vụ án oan sai này là minh chứng cho tuyên bố bất chấp pháp luật của ta.

  
Lý do không được chứng minh là lý do có căn cứ và hợp pháp


Căn cứ Điều 87 của BLLĐ và Điều 80 của BLTTDS thì
ông Thành có quyền và nghĩa vụ không phải chứng minh là mình không có lỗi và
Biên bản hòa giải lao động và Quyết định số 18 là chứng cứ chứng minh SMI đã
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.


“Xe Captival 52LD-4812 máy dầu bị đổ nhầm xăng vẫn chạy bình thường”


Chữ ký trong Quyết định số 18 và Giấy ủy quyền khác nhau


Lốp cũ xe CAPTIVAL của Nhật (MADE IN JAPAN)


Lốp mới xe CAPTIVAL của Thái Lan (THAILAND)


Nhân chứng xác nhận báo giá của mình

(chưa hết thời gian thử việc theo qui định) là nội dung vô hiệu theo quy định của pháp luật
(chưa hết thời gian thử việc theo qui định) là nội dung bị vô hiệu do trái pháp luật

THÔNG TIN MỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
QUẢNG CÁO - LIÊN KẾT
Võ Thuật


QUẢNG CÁO

0912 82 2628

ĐƠN KHỞI KIỆN

Về việc: “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật”.

TRANH LUẬN, CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ: LUẬN CỨ
Sửa đổi, bổ sung, hợp nhất
Phần
Nội dung bị vô hiệu do nhầm lẫn và trái pháp luật

Nội dung vô hiệu là nội dung do các bên thỏa thuận, hoặc do một bên đơn phương áp đặt, hoặc cơ quan có thẩm quyền áp đặt thực hiện trái với quy định của pháp luật. Việc làm trong thời gian thử việc tạm gọi việc làm thử. Thử việc là việc làm thử và thời gian thử việc do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận thực hiện khi hai bên giao kết hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động có nội dung thử việc tạm gọi là hợp đồng thử việc.

1. Nội dung do cơ quan có thẩm quyền áp đặt thực hiện trái pháp luật là nội dung vô hiệu

a) Luận cứ 4 của Hợp đồng lao động và thực tiễn chứng minh nghề lái xe không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Tòa án lạm quyền áp đặt bằng Bản án sơ thẩmBản án phúc thẩm.

Thông tư Số 46/2012/TT-BGTVT không phải là nội dung trình bày của các đương sự. Thông tư này không quy định lái xe là nhân viên nghiệp vụ hay công nhân kỹ thuật. Thông tư này là do Tòa án tự trình bày thay Bị đơn và áp đặt nội dung thử việc vào quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tòa án tự quy định “Nghề lái xe thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định Số 44/2003/NĐ-CP” mâu thuẫn với hình thức đào tạo lái xe là đào tạo sơ cấp nghề được quy định rõ tại khoản 2 Điều 9 của Thông tư số 46 và lái xe là công việc không xác định được thời điểm kết thúc theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 44 là vượt thẩm quyền và trái pháp luật.

b) Luận cứ 2-b và 3 ở dưới; Đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung ngày 18/07/2014 thể hiện “Việc giải thích về hợp đồng lao động trong các văn bản ngày 12/04/2013 và ngày 12/06/2013 bị hủy bỏ và được thay thế bằng văn bản Tranh luận phúc thẩm ngày 12/09/2014”; Đơn khởi kiện các ngày 04/04/2013 và 12/04/2013 có nội dung trái với nội dung của Đơn khởi kiện các ngày 15/08/2013 và 04/09/2013 thì đương nhiên nội dung đó bị bãi bỏ; Không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông Thành và Công ty Quốc tế đã thỏa thuận thực hiện việc làm thửthời gian thử việc tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động theo hình thức hợp đồng miệng ngày 26/02/2013. Do đó, Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm thể hiện “ông Thành trình bày và ông Thành thừa nhận … làm thử việc, ông Thành đang trong thời gian thử việc, thời gian thử việc của ông Thành là 30 ngày” là áp đặt theo ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng trái với nguyên tắc thỏa thuận tự nguyện. Các nội dung bị áp đặt trái với nguyên tắc thỏa thuận tự nguyện là các nội dung bị vô hiệu.

Thực tiễn chứng minh: Thứ nhất,  ông Thành vẫn hành nghề lái xe sau khi Tòa án ban hành Bản án phúc thẩm. Thứ hai: nghề lái xe là miễn thử việc.
Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 là người lái xe phải có giấy phép lái xe (GPLX) do cơ quan nhà nước (CQNN) có thẩm quyền cấp. Có GPLX còn thời hạn sử dụng là đạt yêu cầu công việc lái xe (GPLX là chứng cứ chứng minh ông Thành “đạt điều kiện của người lái xe tham gia giao thông” và “đạt yêu cầu làm nghề lái xe”. Thời hạn sử dụng GPLX là trên 3 năm chứng minh “Lái xe là công việc không xác định được thời điểm kết thúc” trong thời hạn 3 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP). Trong hồ sơ vụ án có GPLX của ông Thành và không có quyết định thu hồi GPLX của CQNN có thẩm quyền. Chính TGĐ đã thông báo kết quả tuyển dụng là ông Thành đạt yêu cầu công việc lái xe của SMI. Nhưng trong Bản án sơ thẩm thể hiện ông Thành không đạt yêu cầu (?), nhận định này của Tòa án là không có cơ sở, không đúng thẩm quyền và không hợp pháp.

c) Bản án phúc thẩm thể hiện “thời gian thử việc của ông Thành là 30 ngày” mâu thuẫn với Luận cứ 4 của Hợp đồng lao động; “Công ty Quốc tế ban hành Quyết định số 18/QĐ/2013 ngày 26/03/2013 trong thời gian 30 ngày thử việc kể từ ngày 01/03/2013 là phù hợp với quy định của pháp luật” mâu thuẫn với Luận cứ 2-b và 3 ở dưới, Luận cứ 7-c của Biên bản hòa giải lao động, Luận cứ 1, 2, 3 của Hợp đồng lao động. Nội dung bị áp đặt thực hiện trái với quy định của pháp luật là nội dung vô hiệu.

Xét thấy, Bản án sơ thẩm thể hiện “Bị đơn không vi phạm thời gian thử việc theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP” theo ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng là hoàn toàn mâu thuẫn với lời trình bày của ông Thành tại Hợp đồng lao động, mâu thuẫn với quy định của pháp luật, mâu thuẫn với sự thật của hồ sơ vụ án lao động này. Tòa án sơ thẩm bất chấp pháp luật cố ý sử dụng tình tiết thử việc vô hiệu để làm sai lệch thông tin hồ sơ vụ án và xét xử theo ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thành là hành vi vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng.

d) Bản án sơ thẩm thể hiện “ông Thành gây ra lỗi, không đạt yêu cầu” theo người đại diện không hợp pháp (xem Luận cứ 4-a ở dưới) vắng mặt tại phiên tòa và Bản án phúc thẩm thể hiện “có thể... công việc của ông Thành đã không đạt yêu cầu thử việc” mâu thuẫn với Luận cứ 2-a và 3 ở dưới, Luận cứ 3 của Hợp đồng lao động. Cả hai bản án không thể hiện được nội dung nào chứng minh lỗi “1. Là tài xế nhưng lại đổ xăng vào xe chạy dầu; 2. Nhưng không biết nhận lỗi (không thấy thể hiện trong bản án, Tòa án đã tham nhũng nội dung này?); 3. Báo giá mua lốp xe Dunlop vượt quá nhiều với giá ông chủ đã mua” là lỗi của ông Thành. Cả hai bản án cũng không thể hiện nội dung ông Thành chứng minh 3 lỗi nêu trong Quyết định số 18 không phải là lỗi của ông Thành. Do đó, nội dung của Tòa án lạm quyền và tùy tiện áp đặt “ông Thành gây ra lỗi, không đạt yêu cầu thử việc” trong hai bản án là không có cơ sở và là nội dung vô hiệu.

Doanh nghiệp, Cơ quan hòa giải lao động, Tòa án không phải là cơ quan có thẩm quyền quyết định người có giấy phép lái xe không đạt yêu cầu làm nghề lái xe. Sở Giao thông vận tải cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quản lý và cấp giấy phép lái xe. Người có giấy phép lái xe là người có quyền lái xe tham gia giao thông theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ và có quyền lao động bằng nghề lái xe theo quy định chung tại khoản 8 Điều 3 Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT. Xe của SMI là loại xe chở người dưới 10 chỗ, ông Thành có giấy phép lái xe hạng B2 được lái loại xe chở người đến 9 chỗ do cơ quan có thẩm quyền là Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp, việc làm của ông Thành thỏa thuận với SMI theo hợp đồng lao động miệng là lái xe, do đó, đương nhiên ông Thành đạt yêu cầu hành nghề lái xe theo quy định tại khoản 6, 8 Điều 3 và khoản 5, 6 Điều 28 Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT. Mặt khác, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, hàng ngày ông Thành vẫn đi làm đúng giờ thậm chí sớm hơn giờ làm việc và về đúng giờ thậm chí trễ hơn giờ nghỉ, ông Thành lái xe an toàn không để xảy ra tai nạn lớn nhỏ nào, lái xe theo sự điều hành hợp pháp và đúng yêu cầu công việc của SMI thậm chí ông Thành còn chủ động sắp xếp công việc cho hợp lý khi đã quen việc, không bị khiển trách gì. Trong hồ sơ vụ án lao động này không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi giấy phép lái xe của ông Thành. Do đó, mọi kết luận rằng ông Thành không đạt yêu cầu công việc lái xe là không có cơ sở và là kết luận trái pháp luật.

e) Quan hệ lao động và quan hệ tranh chấp giữa ông Thành và Công ty Quốc tế (SMI) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 32 Bộ luật lao động và Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP vì tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án không đáp ứng điều kiện cần và đủ để thực hiện Điều 32. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì SMI phải chứng minh lý do của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 32 thì SMI phải chứng minh điều kiện cần là “phải chứng minh không đạt yêu cầu việc làm thử mà hai bên đã thỏa thuận” và điều kiện đủ là “phải chứng minh hai bên có thỏa thuận về việc làm thử, thời gian thử việc khi giao kết hợp đồng lao động”. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 32 mà không thực hiện đúng và đủ điều kiện cần và đủ thì là đơn phương chấm dứt hợp động lao động trái pháp luật.

Câu điều kiện: Mệnh đề quyền làm theo pháp luật nếu mệnh đề điều kiện thực hiện quyền đó được chứng minh là có căn cứ và hợp pháp

Ông Thành có quyền cách chức chức danh thẩm phán nếu ông Thành là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Hỏi: 1) Ông Thành có phải là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao không?; 2) Thẩm phán không tuân thủ pháp luật thì có bị cách chức chức danh thẩm phán không?

Chữ “nếu” trong Điều 32 thể hiện điều kiện phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh lý do việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận là lý do là có căn cứ và hợp pháp trước khi thực hiện quyền hủy bỏ thỏa thuận làm thử của mỗi bên: điều kiện cần là phải chứng minh 3 lỗi nêu trong Quyết định số 18 của SMI là không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận, điều kiện đủ là phải chứng minh hai bên đã thỏa thuận việc làm thử là nội dung gì (?).

Áp đặt thực hiện Điều 32 nhưng thực hiện trái Điều 32. Áp dụng pháp luật không đầy đủ, không chính xác.

Bỏ qua điều kiện để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là “Nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận” là bất chấp pháp luật áp đặt và xét xử theo ý chí chủ quan, là thực hiện trái Điều 32.

a) Xét trường hợp tranh chấp Lỗi trong QĐ18 của SMI đang trong thời gian thử việc thì lý do này không thỏa mãn điều kiện thực hiện Điều 32. Khi có kết luận Lỗi này không phải là lỗi của NLĐ thì NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc và thời gian NLĐ không được làm việc do phải thực hiện QĐ18 của SMI được tính là thời gian làm việc. Tại thời điểm SMI đơn phương ra quyết định sa thải ông Thành và thời điểm Cơ quan hòa giải lao động kết luận “SMI không chứng minh được lỗi vi phạm của ông Thành như đã nêu trong QĐ18 của SMI (nghĩa là Lỗi trong QĐ18 của SMI không phải là lỗi của ông Thành)” đã là thời gian làm việc chính thức. Tòa án đã cố ý thực hiện trái quy định tại Điều 32, khoản 1 Điều 41, khoản 1 Điều 62, khoản 4 Điều 92, và Điều 94 của Bộ luật Lao động và các khoản 4, 5 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm d khoản 3 Điều 14, khoản 2 Điều 7 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP.

b) Xét trường hợp tranh chấp Lỗi trong QĐ18 của SMI sau khi đã hết thời gian thử việc thì Tòa án đã cố ý thực hiện trái quy định tại khoản 1 Điều 41, khoản 1 Điều 62, khoản 4 Điều 92, Điều 94 của Bộ luật Lao động và các khoản 4, 5 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các khoản 3, 4 Điều 7, điểm d khoản 3 Điều 14 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP.

Luận cứ 2-b và 3 ở dưới và Luận cứ của hợp đồng lao động chứng minh hợp đồng lao động giữa ông Thành và Công ty Quốc tế giao kết bằng miệng ngày 26/02/2013 không có nội dung thỏa thuận về việc làm thử và thời gian thử việc nên các bên “không có căn cứ hợp pháp để thực hiện quyền hủy bỏ thỏa thuận làm thử” theo quy định tại Điều 32 này. Nội dung thử việc là nội dung phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng gồm có nội dung thời gian thử việc phát sinh tại thời điểm hợp đồng bị đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật ngày 26/03/2013 làm phát sinh nội dung việc làm thử tại thời điểm khiếu nại ngày 27/03/2013. Nội dung thử việc là nội dung vô hiệu của hợp đồng đã được ông Thành chứng minh đúng pháp luật tại thời điểm cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ khởi kiện ngày 06/05/2013 và trước thời điểm thụ lý vụ án sơ thẩm ngày 30/5/2013 nhưng Tòa án không tuyên bố nội dung thử việc vô hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Bộ luật lao động mà lại áp dụng Điều 32 này để giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không có cơ sở pháp lý, là bất chấp pháp luật tùy tiện giải quyết vụ án theo ý chí chủ quan của Tòa án.

Tòa án áp dụng Điều 32 Bộ luật lao động để cho rằng Công ty Quốc tế có quyền ban hành Quyết định số 18 trong thời gian thử việc 30 ngày là hoàn toàn trái pháp luật. Thứ nhất, mâu thuẫn với Khoản 3 Điều 7 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP là thời gian thử việc không được quá 6 ngày trong trường hợp nếu hai bên có thỏa thuận thử việc. Thứ hai, hai bên không thỏa thuận thử việc thì đương nhiên thời thử việc là 0 ngày và ông Thành không có nghĩa vụ phải thực hiện thử việc. Thứ ba, Nội dung khởi kiện 3 và 4 của Đơn khởi kiện chứng minh ông Thành không áp dụng Điều 32 Bộ luật lao động để khởi kiện tranh chấp lao động.

Do đó, không có cơ sở để Tòa án và Cơ quan hòa giải lao động áp đặt “do ông Thành đang trong thời gian thử việc nên Công ty Quốc tế có quyền hủy bỏ thỏa thuận làm thử mà không cần phải báo trước và không phải bồi thường”. Mặt khác, Tòa án và Cơ quan hòa giải lao động đều thực hiện trái Điều 32 vì không đáp ứng điều kiện cần và đủ để thực hiện Điều 32.

f) Ông Thành khởi kiện về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”. Tòa án sơ thẩm áp đặt và làm sai lệch thông tin việc khởi kiện là “Đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc”. Việc làm thử không đạt yêu cầu không phải là lý do của Công ty Quốc tế (SMI) khi đưa ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ngày 26/03/0213. Cơ quan hòa giải lao động, Tòa án áp đặt lý do “việc làm thử không đạt yêu cầu” mâu thuẫn với lý do “ông Thành gây ra 3 lỗi nêu trong Quyết định số 18” của SMI. Tranh chấp lao động phát sinh khi SMI áp đặt 3 lỗi nêu trong Quyết định số 18 là lỗi của ông Thành và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Thành theo hình thức sa thải trái pháp luật. Tòa án sơ thẩm áp đặt áp đặt tranh chấp lao động là tranh chấp về “Đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc” mâu thuẫn với tranh chấp lao động là lý do nêu trong Quyết định số 18 của SMI.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc không phải là việc khởi kiện và tranh chấp lao động

Hai bên không thỏa thuận thực hiện nội dung thử việc khi giao kết hợp đồng lao động miệng. Nhưng khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo hình thức sa thải trái pháp luật, SMI áp đặt trái pháp luật nội dung thử việc (chưa hết thời gian thử việc theo qui định) làm phát sinh nội dung thời gian thử việc và nội dung việc làm thử trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động về 3 lỗi nêu trong Quyết định số 18 của SMI là lý do sa thải ông Thành trái pháp luật hay là lý do có căn cứ và hợp pháp. Nội dung thử việc cũng là nội dung vô hiệu trong quá trình giải quyết vụ án lao động về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Tiếp theo điểm b Luận cứ 4 ở dưới, Thông báo thụ lý vụ án số 56/TB-TA ngày 30/05/2013 của Tòa án là về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” mâu thuẫn với nội dung nhận định của Bản án là về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc” chứng minh Tòa án cố ý áp đặt trái luật và xuyên tạc “Hợp đồng lao động” thành “Hợp đồng thử việc”. Văn bản số 678/TATP-TLĐ ngày 02/04/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là chứng cứ chứng minh hợp đồng thử việc của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh là bất hợp pháp, Văn bản này cũng không chứng minh được “Thử việc là nội dung bắt buộc phải thực hiện giữa NSDLĐ và NLĐ khi hai bên giao kết hợp đồng lao động”. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2016/2014/QĐPT-LĐ ngày 07/7/2014 của Tòa án phúc thẩm là chứng cứ bổ sung chứng minh “hợp đồng thử việc, việc khởi kiện và tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng thử việc” của Tòa án sơ thẩm là bịa đặt, áp đặt, xuyên tạc và bị vô hiệu.

g) Bản án không căn cứ vào kết quả tranh tụng là bản án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng sẽ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

2. Nội dung do một bên đơn phương áp đặt thực hiện trái pháp luật là nội dung vô hiệu

a) Lý do ông Thành gây ra 3 lỗi “1. Là tài xế nhưng lại đổ xăng vào xe chạy dầu; 2. Nhưng không biết nhận lỗi; 3. Báo giá mua lốp xe Dunlop vượt quá nhiều với giá ông chủ đã mua” không phải là lý do có căn cứ và hợp pháp. Vì, thứ nhất,  căn cứ Biên bản hòa giải lao động thể hiện Công ty TNHH Sài Gòn Đồ gỗ Quốc tế (SMI) không chứng minh được lỗi nêu trong Quyết định số 18 là lỗi của ông Thành; thứ hai, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh 3 lỗi này là lỗi của ông Thành; thứ ba, ông Thành đã cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh 3 lỗi này không phải là lỗi.

b) Quyết định số 18 thể hiện nội dung “(chưa hết thời gian thử việc theo qui định)” do Công ty Quốc tế (SMI) đơn phương áp đặt thực hiện tại thời điểm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngày 26/03/2013 là nội dung bị vô hiệu theo quy định của pháp luật. Nội dung này chứng minh ông Thành và Công ty Quốc tế không thỏa thuận thực hiện thời gian thử việc khi giao kết hợp đồng lao động theo hình thức hợp đồng lao động miệng.

3. Nội dung do các (một/hai) bên bị nhầm lẫn về mặt pháp luật là nội dung vô hiệu

a) Nội dung “làm thử việc” thể hiện trong Biên bản hòa giải lao động phát sinh theo nội dung “(chưa hết thời gian thử việc theo qui định)” của Quyết định số 18 cũng là nội dung vô hiệu của giao dịch dân sự do bị nhầm lẫn về mặt pháp luật.

b) Nội dung “làm thử việc” thể hiện trong các văn bản khác (Đơn khởi kiện, văn bản ngày 12/04/2013, văn bản ngày 12/06/2013) phát sinh theo nội dung “(chưa hết thời gian thử việc theo qui định)” của Quyết định số 18 cũng là nội dung vô hiệu do ông Thành đã bãi bỏ nội dung này sau khi phát hiện nhầm lẫn.

4. Nội dung khác bị vô hiệu: Tài liệu, chứng cứ không có căn cứ và hợp pháp; sai sự thật; có vi phạm pháp luật; có nội dung bị bãi bỏ, bác bỏ.

a) Đại điện theo ủy quyền không hợp pháp, nội dung trình bày của bà Châu không có giá trị pháp lý là của Công ty Quốc tế, tài liệu liên quan bị vô hiệu:

Thứ nhất, Hai giấy ủy quyền có cùng nội dung nhưng khác hình thức là chứng cứ chứng minh bà Hồ Thị Bảo Châu không phải là đại diện hợp pháp của Bị đơn và Bị đơn không tham gia tố tụng sơ thẩm. Hậu quả pháp lý là Biên bản hòa giải ngày 18/07/2013 của Tòa án sơ thẩm, Bản tự khai ngày 18/7/2013 của bà Châu (không có giá trị pháp lý là Bản tự khai của Bị đơn) là các tài liệu không hợp lệ. Việc hoãn phiên tòa phúc thẩm ngày 26/02/2014 là chứng cứ chứng minh Đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 23/08/2013 của bà Châu là không hợp lệ (yêu cầu của bà Châu thể hiện trong đơn là đề nghị được vắng mặt trong các buổi xét xử của Tòa án các cấp) nhưng Bản án sơ thẩm vẫn thể hiện bà Hồ Thị Bảo Châu là đại diện hợp pháp của Bị đơn, nghiêm trọng hơn, Bản án sơ thẩm còn thể hiện lời khai chưa được xác minh và đối chất của bà Châu là lời khai của Bị đơn, đặc biệt nghiêm trọng khi Tòa án chỉnh sửa nội dung của bà Châu trình bày thành nội dung của Tòa án mạo danh Công ty Quốc tế trình bày theo ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng.

Thứ hai, Bản án phúc thẩm thể hiện bà Hồ Thị Bảo Châu là người đại diện hợp pháp của Công ty Quốc tế (SMI) theo văn bản ủy quyền ngày 25/11/2013 mâu thuẫn với nhiều lần Tòa án phúc thẩm trả lời rằng SMI không bổ sung tài liệu, chứng cứ mới, không liên hệ với Tòa án trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và mâu thuẫn với hành vi Tòa án không cung cấp cho ông Thành văn bản ủy quyền chứng minh bà Châu là đại diện hợp pháp của SMI. Mặt khác, Bản án phúc thẩm đã tố cáo Tòa án trả lời sai sự thật và có hành vi làm sai lệch thông tin hồ sơ vụ án, ngoài văn bản ủy quyền ngày 25/11/2013 thì SMI cũng đã cung cấp cho Tòa án văn bản ủy quyền khác và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 19/03/2014 của bà Châu theo công bố bằng lời nói gió bay của Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm ngày 03/09/2013.

b) Thông báo thụ lý vụ án lao động sơ thẩm số 56/TB-TA ngày 30/05/2013 của Tòa án sơ thẩm là chứng cứ chứng minh nội dung “Tòa án sơ thẩm yêu cầu ông Thành nộp bản sao hợp đồng lao động miệng” thể hiện tại Thông báo số 07/TB-TAQBTh ngày 11/04/2013 của Tòa án sơ thẩm là nội dung vô hiệu. Giải thích pháp luật để thực hiện hợp đồng theo pháp luật hoàn toàn khác với thừa nhận thời hạn của hợp đồng. Nội dung mà hai bên không thỏa thuận, hoặc thỏa thuận trái với quy định của pháp luật thì thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung do một bên đơn phương áp đặt, hoặc do cơ quan có thẩm quyền áp đặt thực hiện trái pháp luật thì là nội dung vô hiệu. Luận cứ về hợp đồng lao độnghợp đồng lao động miệng đã bác bỏ hợp đồng thử việc của Tòa án, bãi bỏ nội dung giải thích về hợp đồng có thời hạn dưới 3 tháng.

 

MH53

CÔNG TY TNHH MTV THƯƠNG HIỆU VẬN TẢI BA THÀNH
Địa chỉ: 248/25 Bùi Thị Xuân, Q. Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.6899.6850 & 08.6899.6846 - Hotline: 0912 82 2628
Email: info@thuonghieudoanhnghiep.vn